"Chủ nghĩa thiêu thân" của Jean-Paul Sartre
“L’existentialisme est un humanisme” (Dấn thân vào đời chẳng qua cách là để tự định đoạt giá trị làm người)
Lần này, tôi muốn đứng ra bênh vực cái lối tư duy dấn thân này trước bao lời đàm tiếu bủa vây. Người ta hùa nhau trách chúng tôi xúi giục thiên hạ nằm ườn ra buông xuôi trong tuyệt vọng, bởi họ diễn giải rằng một khi mọi nẻo đường đều đâm vào ngõ cụt, sống ở đời hóa ra vô nghĩa, và thế là lại chui tọt về với thói chiêm nghiệm rỗng tuếch của bọn tư sản ăn no rửng mỡ. Đấy là tiếng chì chiết từ phía những người cộng sản.
Mặt khác, phe Công Giáo lại mắng mỏ chúng tôi chuyên đi rình rập moi móc những góc tối tồi tàn, bẩn thỉu, nhầy nhụa của kiếp người mà quay lưng với muôn ngàn nét hân hoan tươi sáng. Như cô Mercier (Méc-xi-ê) đã dằn vặt rằng chúng tôi đã quên béng đi nụ cười trẻ thơ.
Cả hai phe đều hùa vào kết tội chúng tôi đã tự tay chặt đứt sợi dây liên đới giữa người với người, nhốt phần hồn vào cõi cô độc. Bọn Cộng Sản rêu rao rằng chúng tôi bám chặt vào cái tôi ích kỷ của Descartes (Đề-các), bám vào cái giây phút con người trơ trọi tự thấy mình, để rồi tước đi lòng trắc ẩn vươn tay ra ôm lấy những thân phận khác.
Còn những người theo Thiên Chúa Giáo thì đay nghiến rằng chúng tôi bóp nghẹt ý nghĩa và sự nghiêm túc của hành động; rằng một khi gạt bỏ luật trời và những giá trị tạc vào vĩnh cửu, thế gian này sẽ trở nên nhẹ hều, ai muốn giở trò gì thì mặc kệ, và chẳng kẻ nào đủ tư cách gì mà phán xét kẻ khác.
Hôm nay, tôi đứng đây cốt để lột trần tất thảy những lời chê bôi ấy. Thế nên tôi mới đặt tên cho câu chuyện này là: Lối sống tự quyết định cuộc đời mình chính là cách tôn vinh trọn vẹn kiếp người. Nhiều người nghe đến chữ tôn vinh chắc sẽ giật nảy mình. Để rồi xem chúng tôi nhào nặn nó ra sao. Chỉ dám nói ngay từ đầu rằng, cái lối tư duy dấn thân vào đời nhằm để giúp người ta sống được giữa cõi trần, và nó khẳng định chắc nịch rằng mọi chân lý, mọi hành động đều bám rễ vào hoàn cảnh và góc nhìn của chính con người mày.
Căn bệnh trầm kha của dư luận là cứ đồng nhất cái lối tư duy này với cái xấu xí. Có bà nọ lỡ mồm văng tục bèn chữa thẹn: “Chắc dạo này mình bị mắc cái bệnh trầm cảm u uất như đám L’existentialisme mất rồi. “. Họ coi chúng tôi là lũ bới móc hiện thực. Thế mà lạ thay, thiên hạ đọc truyện tả cảnh lấm lem của Zola (Dô-la) thì gật gù êm xuôi, còn lật vài trang văn của người như tôi lại thấy buồn nôn. Những kẻ hay nhai lại dăm ba câu răn đời sáo rỗng – vốn dĩ sặc mùi yếm thế – lại chê bai chúng tôi là quân bi quan. Rõ là nực cười! Có gì chán chường hơn mấy triết lý vỉa hè kiểu “ốc không mang nổi mình ốc lại còn mang cọc cho rêu”? Họ cứ lải nhải rằng đừng có vuốt râu hùm, đừng trèo cao ngã đau, cứ phải bám vào kinh nghiệm xương máu của tiền nhân không thì hỏng bét. Bọn họ đinh ninh rằng con người vốn dĩ dễ sa ngã, nên phải lấy kỷ luật sắt mà uốn nắn lại. Chính những kẻ mở miệng ra là buông lời tặc lưỡi “con người mà” mỗi khi thấy chuyện chướng tai gai mắt, nay lại chĩa mũi dùi vào chúng tôi, chê chúng tôi vẽ đời tối tăm. Phải chăng cái làm họ phát khiếp Không phải là sự bi quan, mà lại là cái khát khao được sống mãnh liệt rực cháy của chúng tôi? Phải chăng điều khiến họ rùng mình chính là cái lối tư duy này dám đặt vào tay con người trọn vẹn quyền tự định đoạt số phận cuộc đời mình?
Nhắc đến câu nói “sống đã rồi hẵng tính”, lắm kẻ trở nên bối rối không biết giải thích kiểu nào. Chữ L′existentialisme đã trở thành cái mốt, trending đến mức tay nhạc sĩ hay gã họa sĩ nào cũng được gắn có thể treo cái mác ấy ngay cửa miệng. Thật là loãng nhách, chẳng còn mang sức nặng gì. Nhưng thực sự, đây là trạng thái suy nghĩ khô khan, khắc nghiệt, sinh ra để cho những kẻ chuyên tâm mổ xẻ nội tâm bản thân lựa chọn muốn sống thế nào?
Dù rườm rà, ta có thể tách nó làm hai nhánh. Nhánh tin có Chúa, như Jaspers (Giat-xpơ) hay Gabriel Marcel (Ga-bri-en Mác-xen).
Và nhánh gạt Chúa sang một bên, gồm có Heidegger (Hai-đếch-gơ), đám trí thức Pháp, và cả tôi nữa.
Cốt lõi chung của cả hai vẫn là:
Con người ta bị đày ải xuống thế gian này, sống sờ sờ ra đấy trước đã, rồi mới tự tay đẽo gọt nên bản chất của mình.
Lấy con dao rọc giấy làm ví dụ. Người thợ rèn làm ra nó phải dựa vào một cái khuôn hình dung trong đầu và kỹ thuật chế tác rõ ràng. Với vật vô tri vô giác, cái khuôn mẫu ấy có trước sự hiện diện của nó.
Cái nhìn nặng tính công cụ bị đem phóng to lên tầm vũ trụ. Kể cả khi người ta tin vào Thượng đế, họ cũng hình dung Ngài như một tay thợ cả siêu phàm. Ngài nặn ra con người theo cái khuôn đã đúc sẵn. Đến thế kỷ mười tám, khi đám triết gia khai sáng hất cẳng Thượng đế, họ vẫn ôm khư khư cái nếp nghĩ:
Mày phải có cái “Lõi” nào đó quyết định sẵn từ trước khi sinh ra rồi mới hành động y hệt như những gì đã được lập trình.
Diderot (Đi-đơ-rô), Voltaire (Vôn-te), hay cả Kant (Căng) đều đinh ninh rằng con người có chung một “nhân tính” cốt lõi như thế. Gã mọi rợ trong rừng sâu hay gã tư sản thành thị đều trói chung vào một khuôn mà ra.
Lối tư duy tự quyết gạt bỏ niềm tin vào định mệnh sắp đặt mà tôi đang theo đuổi thì đi thẳng vào gốc rễ hơn.
Nếu Chúa không tồn tại, chỉ là một thứ nằm trong đầu óc tưởng tượng, thì chắc phải có một cái gì đó cứ thế tồn tại trước khi bị gò ép vào bất kỳ định nghĩa nào. Sinh vật ấy chính là con người. Con người sinh ra ở đời, đập vào mắt nhìn thấy thế gian, rồi mới tự tay nhào nặn nên hình hài của chính mình.
Lúc mới sinh ra, con người rỗng tuếch, chưa là cái thá gì cả. Về sau, họ mới trở thành cái mà họ tự chọn con đường của mình.
Chẳng làm gì có cái gọi là “bản tính con người” vì làm quái gì có ông trời nào ở trên đầu điều khiển như múa rối đây. Con người không dừng lại ở những gì họ mường tượng về mình, mà là những gì khát khao hướng tới khi phóng mình vào cõi đời.
Con người chính là những gì họ tự đắp nặn nên. Bọn họ chê bai chúng tôi là lạm dụng cái tôi chủ quan, nhưng ý chúng tôi là: con người mang phẩm giá tráng lệ hơn hẳn hòn đá hay cái bàn vô tri. Con người là sự thể hiện sống động từ trong tâm can, lao về phía trước và nhận thức rõ cú lao mình ấy, chứ đâu phải đám rêu phong hay củ su hào vô tri vô giác đâu?
Chẳng có luật lệ nào từ trên trời rơi xuống rọi đường. Cái ta “muốn” thường chỉ là quyết định bề mặt sau khi mọi sự đã rồi. Chọn tham gia một tổ chức, viết một cuốn sách, hay lập gia đình, rốt cuộc chỉ là cái vòi bạch tuộc vươn ra từ một quyết định sâu thẳm và nguyên sơ hơn thế nhiều.
Một khi đã thừa nhận sống rồi mới tính, con người phải tự gánh vác trọn vẹn sức nặng của bản thân. Hành động đầu tiên của tư tưởng này là đặt con người ngồi thẳng vào vị trí làm chủ cuộc đời mình.
Mà đâu chỉ vác cái vỏ bọc cá nhân, ta còn phải gánh lấy cả nỗi đau nhân loại.
Bọn thù địch cứ chơi chữ để bắt bẻ chúng ta ở điểm này. Thực chất, chọn lối đi cho mình cũng chính là chọn cho người khác.
Không một thao tác đẽo gọt bản thân nào lại chẳng đồng thời phác thảo dựa trên một hình mẫu về con người mà ta cho là đáng sống. Chọn làm điều này điều nọ chính là dán mác giá trị “tốt” hoặc “xấu” cho việc phải làm.
Ta đâu có điên mà chọn cái ác, ta luôn chọn cái tốt, mà cái đã tốt cho ta thì ắt phải tốt cho hàng vạn người. Trách nhiệm sống ở đời lớn lao hơn ta tưởng, vì nó trói buộc cả kiếp người. Tôi chọn làm công nhân, tôi chọn tin vào giáo hội Công Giáo thay vì theo Đảng Cộng Sản, tức là tôi đang ngầm tuyên bố với thế giới rằng ngoan ngoãn cam chịu mới là lẽ sống, rằng thiên đường không có ở cõi thế này. Chọn lấy vợ, đẻ con, dù xuất phát từ khao khát cá nhân, tôi cũng đang gài số phận con cháu đời sau cũng chạy theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Sự lựa chọn của một người tạo nên nhân và ảnh hưởng quả ngọt lên số phận của nhiều người
Nghe đến chữ “sự dằn vặt”, nhiều người thấy to tát. Nhưng lối tư duy Lê-zig-tăng-xi-a-lít thẳng thừng tuyên bố: con người là một loài ưa dằn vặt.
Kẻ nào nhận ra mình vừa phải tự quyết định đời mình, vừa đóng vai trò mắt xích xoay chuyển lịch sử cho cả nhân loại dù chỉ xuất thân tầm thường, kẻ đó làm sao thoát khỏi gánh nặng mang vác trách nhiệm.
Đầy kẻ ngoài kia mặt mũi trơ trơ, chẳng qua là họ đang bịt mắt trốn chạy cái sự dằn vặt ấy. Họ cứ huyễn hoặc bản thân rằng việc mình làm chẳng ảnh hưởng đến ai. Hễ có người hỏi vặn: “Nhỡ ai cũng làm thế thì sao?”, họ liền bĩu môi: “Làm gì có chuyện ai cũng giống hệt tôi“.
Kẻ hay lấp liếm bằng câu “người ta đâu có giống mình“ thực chất đang mang cái gánh nặng trong lòng, vì lời nói dối ấy mặc nhiên khoác lên sự dối trá chối bỏ áp lực đang đè nặng lên vai.
Nỗi dằn vặt, lo âu ấy, Kierkegaard (Ki-ếc-kê-go) gọi là nỗi thống khổ của Abraham (A-bờ-ra-ham). Thiên thần hiện ra bảo ông hiến tế mạng sống con trai cưng Issac dâng lên đấng Yahweh (hay Gia-vê Nếu đúng là thiên thần thì thôi chẳng có gì bàn cãi. Nhưng lấy gì chứng minh? Có bà điên cũng khăng khăng Chúa gọi điện sai bảo bà ta. Biết đâu là Chúa thật hay do thần kinh có vấn đề? Ai chứng minh được những tiếng thì thầm bên tai ta đến từ cõi Thiên đàng chứ Không phải từ địa ngục hay từ góc khuất nào đó trong tâm trí?
Chẳng có phép mầu nào thực sự đáng tin. Chính mày phải tự quyết định tiếng gọi ấy là thiên thần hay ác quỷ. Chính mày phải tự gắn mác cho nó cái nhãn tốt hay xấu cho hành động của mình để thực sự dám hành động hoặc sau khi mọi chuyện đã rồi.
Vì vậy lúc nào cũng như thể cả nhân loại đang chằm chằm nhìn vào ta mà bắt chước dò bước theo sau.
Nỗi dằn vặt ấy không xúi người ta khoanh tay dửng dưng đứng nhìn,chính là máu thịt của những kẻ cầm quyền sinh quyền sát. Vị tướng xua quân ra trận, dù có lệnh bề trên, vẫn phải tự mình diễn giải cái lệnh quyết định mạng sống của bao người. Không dằn vặt thì làm sao dám hành động? Bởi hành động là vạch ra con đường sống giữa muôn ngàn cửa tử và đặt cược giá trị vào lối đi ấy.
Khi nhắc đến sự bơ vơ, trơ trọi, chúng tôi đơn giản muốn lột trần sự thật rằng: Thượng đế không có mặt ở Trái đất này, và con người phải tự nuốt trôi quả đắng cay ấy đến khi chết.
Chúng tôi chướng mắt với thứ đạo đức xôi thịt rởm đời muốn hất cẳng Chúa nhưng lại thèm khát giữ nguyên trật tự an toàn. Cuối thế kỷ mười chín, các nhà giáo dục Pháp bảo nhau: Chúa không tồn tại, cần phải dẹp đi thứ giáo điều cổ hủ , nhưng để xã hội vận hành êm ái, ta vẫn phải treo vài cái chuẩn mực đạo đức ở trên mây như “Không được nói dối, Không được đánh vợ, phải đẻ con”.
Rốt cuộc, họ vẫn huyễn hoặc rằng dù không có Chúa đi nữa thì mọi thứ vẫn ổn.
Lối tư duy dấn thân đời, tự quyết lấy mọi chuyện lại thấy chuyện thiếu vắng sự hiện diện Chúa là quá sốc. Vì Chúa đi rồi, lấy ai tạc ra chân lý trên chín tầng trời? Làm gì còn cái khuôn luân lý nào để mà rập theo.
Dostoevsky (Đốt-xtôi-ép-xki) từng viết:
“Nếu trên đời không có đấng tối cao phân xử thiện ác, chẳng có rào cản gì có thể kiềm hãm được con người”.
Đó là mồi lửa của thái độ tự quyết. Không có Chúa, con người bị vứt trơ trọi, mất đi điểm tựa bên trong lẫn bên ngoài. Không có chỗ để viện cớ van xin tha thứ. Không có thứ bản tính sẵn có nào đúc sẵn để mà đổ lỗi. Con người quá tự do đến tàn nhẫn. Không có giá trị vạch sẵn nào rọi đường. Tôi nói: con người dù bị kết án phải tự do.
Bị kết án, vì ta đâu có quyền chọn được sinh ra ; nhưng vì tự do, vì một khi rớt xuống cõi đời, ta phải tự gánh lấy trách nhiệm mọi việc mình đã làm. Ta không tin vào thứ cảm xúc mù quáng quật ngã con người như cơn bão, rồi giở trò rồi đổ tại số phận. Con người phải tự chịu trách nhiệm cho dục vọng của mình. Chẳng có điềm báo nào dẫn đường, vì chính con người tự tô điểm ý nghĩa cho điềm báo ấy. Ponge (Pông-giơ) có câu quá hay: “Con người nắm trong tay tương lai của chính mình”. Nhưng Định mệnh không nằm trong cuốn sổ Nam Tào, mà là mảng giấy trắng chờ ta tự viết.
Để lột tả cái sự bơ vơ này, tôi kể chuyện cậu học trò ngày trước đến cầu cứu tôi. Cha cậu gây chuyện rồi ngả theo phe hợp tác với địch. Anh trai cậu tử trận. Mẹ cậu sống hiu quạnh, chỉ bấu víu vào mỗi mình cậu. Cậu đứng giữa ngã ba đường: một là sang Anh nhập quân Kháng chiến, bỏ lại mẹ già; hai là ở lại báo hiếu. Một bên là hành động nhỏ bé nhưng sờ sờ ngay trước mắt, cứu một mạng người; một bên là sự nghiệp lớn lao nhưng mù mờ, biết đâu trên đường đi bị bắt bỏ tù. Cậu giằng xé giữa tình thân và đại nghĩa. Ai gỡ rối được đây? Kinh Thánh bảo yêu đồng loại, chọn lối chông gai mà đi. Nhưng lối nào chông gai hơn? Mớ đạo lý ấy chỉ là mây mù. Đạo đức của Kant bảo đừng coi người khác là công cụ. Nói thì hay lắm! Ở lại với mẹ vì chữ hiếu, nhưng hóa ra lại dùng chiến hữu làm bia thịt đỡ đạn thay mình. Đi chiến đấu thì tôn vinh chiến hữu, lại biến bỏ quên mẹ già không ai nương tựa.
Khi các giá trị rộng lớn quá đâm ra mông lung, cậu học trò đành dựa vào bản năng. Nhưng làm sao đo đếm được sức nặng của tình cảm? Tôi chỉ dám nói tôi yêu mẹ nếu tôi thực sự ở lại bên bà. Tình cảm được đắp nặn từ chính những gì ta làm, nên đem tình cảm ra làm la bàn thì luẩn quẩn. Đóng kịch với người khác hay sống thật lòng với cảm xúc cũng chả khác gì nhau. Dù tìm đến thầy tu hay giáo sư xin lời khuyên, thì trong thâm tâm cậu đã tự chọn phe rồi. Tìm linh mục kháng chiến thì nghe xúi đánh nhau. Cậu ta có đến tìm tôi, dù thừa biết tôi sẽ bảo:
Anh được tự do rồi đấy, tự mà đẽo gọt lối đi cho mình, chẳng có cuốn sổ Định mệnh nào chỉ việc cho anh cả.
Con người hay lảng tránh cái sự thật trần trụi ấy. Có tay tu sĩ dòng Tên - Ignatius xứ Loyola - liên tiếp nếm mùi thất bại: mất cha, sống chật vật nhờ của bố thí, thi hỏng bét nhè, thất tình, lại còn trượt cả đợt tuyển quân. Gã đinh ninh mình là đồ bỏ đi, nhưng thay vì chết chìm trong cay đắng, gã tự xoa dịu mình bằng cách coi đó là “điềm báo” từ bề trên, rằng đời gã không với cuộc sống phàm tục mà phải theo lời ơn gọi. Thế là gã đi tu. Nhìn mà xem, chính gã tự chọn lấy ý nghĩa cho cái điềm báo ấy chứ ai. Thấy mình thất bại thì làm thợ mộc hay đi làm cách mạng cũng được cơ mà! Sự bơ vơ vô định đòi hỏi ta tự vạch đường, và nó luôn đi kèm với nỗi dằn vặt.
Còn sự tuyệt vọng, dám dứt với mộng tưởng, nghĩa là bấu víu vào những gì nằm trong tầm tay. Ngồi đợi bạn đến nhà thì tin rằng chiếc xe lửa sẽ không trật bánh. Nhưng khi hành động vươn khỏi những những gì dự tính ấy, ta phải buông ngay, vì chẳng có ông thần nào bẻ cong vũ trụ hầu hạ ý ta.
Mấy người Mác-xít vặn tôi:
“Thế anh không tin ở đồng chí của mình, những người sẽ nối bước sau khi anh chết vì lý tưởng cách mạng à?”.
Tôi đáp: Đồng chí cùng hội cùng thuyền, sát cánh sờ sờ ra đấy thì tôi tin, giống như tin tàu hoả chạy đúng giờ. Còn dăm ba cái niềm tin mông lung vào lòng tốt nhân loại hay một đám đông vô danh mai sau thì xin thôi, Tôi xin từ chối. Vì con người vốn tự do, chẳng có bản tính chung nào neo giữ họ lại với nhau mãi đâu. Cách mạng Nga sau này đi về đâu thì tôi không biết. Nay họ vùng lên, mai họ hèn nhát rước bọn độc tài về thì chân lý sẽ thuộc về bọn độc tài. Vậy phải bó tay à? Không! Cứ sống trước đi đã. Cái thói buông xuôi, chọn chỗ êm ái là đặc quyền của đám hay tặc lưỡi: “Việc đó để người khác lo”. Lối tư duy của chúng tôi vả thẳng vào mặt thói ỷ lại ấy: Chỉ có hành động mới tạo ra kết quả. Con người chẳng là gì khác ngoài những quyết định tự tay mình chọn nên.
Thiên hạ chán ghét chúng tôi là phải. Mấy kẻ thất bại thường tự huyễn hoặc:
“Đời thật trớ trêu, tôi vốn có tài nhưng chưa gặp thời, chưa gặp đúng người nhận ra, chưa đủ rảnh rỗi để làm”.
Họ bám vào dăm ba cái tiềm năng hão. Nhưng với lối tư duy sống qua ngày đoạn tháng này, chẳng có tình yêu nào ngoài thứ tình cảm được cọ xát vun đắp sẽ không có thiên tài nào xuất hiện nếu không có những tác phẩm để đời.
Sự vĩ đại của Proust (Pờ-rút) nằm trọn trong trang sách của ông, thiên tài của Racine (Ra-xin) là những vở bi kịch ông viết. Ngoài cái vỏ bọc hiện thực ấy ra, họ là con số 0.
Đời người là những nét cọ quệt lên khung vải, cạo sạch lớp sơn ấy thì chẳng còn gì đọng lại. Sự thật này đắng ngắt, nhưng nó ép người ta nhìn thẳng vào thực tại, dẹp bớt thói thủ dâm tinh thần. Chúng tôi không phác họa một bức tranh u tối, mà ném vào đời cục đá chan chứa sinh khí. Tả một gã nhu nhược hay tên hèn, Không phải để đổ tội cho gien di truyền hay hoàn cảnh – làm thế thì thiên hạ lại vỗ đùi “ôi dào, người ta sinh ra đã thế”. Không, gã hèn vì gã tự nhào nặn mình tính hèn mọn qua những lần thỏa hiệp quỳ gối. Chẳng có mã gen di truyền nào làm con người sinh ra đã hèn, chỉ có chọn lối hành xử nhu nhược, chịu khuất phục trước người khác mới tạo ra thằng hèn.
Việc đổ lỗi vì sinh ra đã thành anh hùng hay sinh ra đã làm kẻ hèn là cái cớ để đùn đẩy trách nhiệm cơ. Lê-zig-tăng-xi-a-lít tự quyết định đời mình lột mặt nạ sự lười biếng ấy: kẻ hèn tự biến mình thành hèn, người hùng tự trui rèn thành anh hùng. Cửa vẫn luôn mở để gã hèn vùng lên và người hùng sa ngã.
Họ lại xúm vào vặn vẹo chúng tôi nhốt con người trong cái vỏ ốc chỉ biết quan tâm mỗi bản thân. Họ hiểu sai bét. Ta cắm rễ vào cái sự tự nhận thức của phần hồn cá nhân vì đó là điểm tựa duy nhất của chân lý. “Tôi tư duy, nên tôi tồn tại” – đó là sự thật trần trụi nhất khi thâm tâm tự bắt lấy chính nó. Bỏ qua cái mỏ neo ấy thì mọi lý thuyết đều là xây nhà trên cát. Đây cũng là lối thoát duy nhất để không biến con người thành một cục gạch vô tri vô giác.
Chủ nghĩa duy vật gọt con người thành đống phản ứng hóa học, y chang cái bàn cái ghế. Tôi thì muốn dựng nên một cõi sống giá trị tách biệt hẳn với sỏi đá. Khi nhận thức được tận gốc rễ ấy, ta không chỉ nhìn thấy rõ mình mà còn những kẻ khác sống sờ sờ ra đó, rõ như ban ngày. Ta đâu thể nhận mình vui tính, ác độc hay ghen tuông nếu không có con mắt của người đời soi vào. Khám phá nội tâm bản thân mình tức là đối diện với sự tự do của kẻ đứng trước tấm gương, bước vào một cõi cọ xát giữa các phần hồn, nơi con người định đoạt giá trị của nhau.
Dù chẳng có cái “nhân chi sơ, tính bổn thiện” rập khuôn trước cả khi sinh ra, thì thế gian vẫn có cái hoàn cảnh chung của kiếp người. Sinh ra làm nô lệ, vua chúa hay phu phen thì khác nhau, nhưng cái gánh nặng phải vã mồ hôi sôi nước mắt, chen chúc giữa dòng người và cuối cùng là chết thì ai cũng giống hệt. Đó là ranh giới bủa vây kiếp người, vừa khách quan vì ai cũng phải chết, vừa chủ quan vì mỗi người tự xoay xở một kiểu. Sự vẫy vùng của một gã da đen hay một tay nông dân Trung Hoa cũng mang sức nặng y như sự dằn vặt của gã da trắng thị thành, vì tất cả đều đang đập đầu vào ranh giới ấy. Con người đau khổ giống nhau không phải như món đồ chơi công nghiệp sản xuất đại trà, mà là do thứ ta đắp nặn từng ngày qua hành động dấn thân vào đời và thấu cảm nỗi đau của người khác
Lại có người cự cãi: “Thế thì các anh muốn làm gì thì làm à?”. Sai bét. Anh có quyền chọn, nhưng đéo thể nói là không được làm gì hết. Việc anh đứng yên bất động cũng là hành động rồi.
Đứng trước hoàn cảnh có thể kết hôn rồi sinh con, anh buộc phải tự ra quyết định, và gánh lấy cái nghiệp chướng ấy cho cả con đàn cháu đống mà sau này sẽ mang dòng máu của mình.
Đừng lôi cái thói đỏng đảnh hành động vô tư của Gide (Gít) ra so sánh. Gide mù tịt về gánh nặng trách nhiệm. Còn tôi, con người bị kẹt trong mạng nhện bủa rây khi sống ở đời mà chọn một đường là kéo theo cả hệ lụy, không trốn tránh.
Cứ đem so với họa sĩ vẽ tranh. Có ai đưa cái khuôn bắt Picasso (Pi-cát-xô) vẽ theo không ? Tranh chưa vẽ thì làm gì có chuẩn mực, vẽ xong rồi cái đẹp nó mới bật ra từ sự cọ xát giữa cọ và màu. Đạo đức cũng thế. Cậu học trò của tôi đâu thể tìm được câu trả lời trong đống kinh kệ của người đi trước nếu không phải tự vắt óc tìm ra mục đích sống cho chính cuộc đời mình.
Họ lại bảo: “Thế thì anh lấy quyền gì phán xét đạo đức người khác?“. Vừa đúng vừa sai. Không ai có quyền chê bai một quyết định đến từ bản chất bên trong con người ta.
Chẳng có cái gì gọi là “tiến bộ” đạo đức, vì ngàn năm nay con người vẫn bị ném vào đời và bắt buộc phải vẫy vùng, hồi xưa chọn vùng lên đấu tranh khỏi ách nô lệ, nay chọn theo đảng này đảng kia, cái lõi vẫn giữ y nguyên. Nhưng ta vẫn có thể phán xét. Phán xét xem sự lựa chọn ấy xây trên sự thật hay sự dối trá. Đứa nào đổ lỗi do hoàn cảnh hay dục vọng để bao biện cho sự hèn nhát của mình, tôi nói hắn ta là kẻ tự dối mình. Vì dám chạy trốn việc chính nó đã ra quyết định đó.
Còn kẻ bạo chúa nào đủ trơ tráo vỗ ngực bảo sự tồn tại của bản thân là chân lý hiển nhiên ép người khác phải sùng bái cá nhân, hãy gọi chúng là lũ khốn. Hãy đánh giá trên thước đo của sự trung thực với tiếng nói nội tâm. Khát vọng tột cùng của một người sống tử tế là truy cầu sự tự do mà tự do của mình thì dính chặt vào tự do của kẻ khác.
Đạo đức trên giấy lúc nào cũng thất bại hoàn toàn khi đem áp dụng vào thực tế.
Nhìn cô Maggie trong cuốn Cối xay trên dòng Floss mà xem. Nàng yêu say đắm nhưng lại gạt tình riêng sang một bên để nhường người tình cho kẻ khác vì tình đồng loại.
Trong khi cô Sanseverina trong Tu viện thành Parma của Stendhal (Xtăng-đan) lại sẵn sàng dẫm đạp lên mọi rào cản để giành lấy tình yêu, sẵn lòng hy sinh bản thân vì một khát khao mãnh liệt.
Nhìn qua thì có vẻ khác. Nhưng ruột gan giống hệt nhau: cả hai người đàn bà đều dùng đòn bẩy hành động để phóng thích sự tự do lựa chọn. Họ lại hỏi:
“Thế thì giá trị do mấy anh tự nặn ra hóa ra rỗng tuếch à?”.
Xin thưa, tôi cũng buồn vì chuyện nó đắng nghét thế này, nhưng đã hất cẳng ông trời thì phải có kẻ tự tay nhào nặn ra giá trị chứ. Đời vốn dĩ vô nghĩa. Trước khi được sinh ra thì cuộc đời chỉ là một khoảng trống rỗng. Mày phải tự khoác lên nó một ý nghĩa, và cái ý nghĩa do chính tay ta tự chọn lấy, gọi là “giá trị”.
Có người cạnh khóe tôi:
“Trước ông chửi Humanisme (Hy-ma-nít) tơi bời, sao giờ lại ôm vào?”.
Hy-ma-nít có hai đường nghĩa.
Nghĩa thứ nhất sặc mùi tự huyễn lấy con người làm cái rốn vũ trụ để mà tự hào vớ vẩn. Nhìn thấy cái máy bay vút qua liền vỗ đùi: “Loài người vĩ đại quá!“, dù chính mình chẳng góp cái đinh ốc nào. Coi con người là mục đích tối thượng để mà đem ra thờ phụng, cái thói ấy chỉ châm ngòi cho chủ nghĩa phát-xít sặc mùi xôi thịt của Auguste Comte (Ô-gút-xtơ Công-tơ).
Lối tư duy của chúng tôi khinh bỉ vào thứ Hy-ma-nít ấy. Con người chưa bao giờ hoàn thiện để đem ra sùng bái.
L′existentialisme tôn vinh kiếp người theo kiểu khác. Nó có nghĩa là con người luôn phá vỡ cái khuôn chật hẹp của chính mình tạo ra.
Chỉ khi dấn mình vào những mục tiêu cao cả hơn bản ngã, con người mới thực sự chạm vào cõi sống. Con người là trung tâm của sự vươn mình tột độ ấy. Tôi vạch trần cho con người thấy rằng: chẳng có đấng tối cao nào ban ra 10 điều răn nhưng anh phải tự vạch đường đi giữa chốn trần ai này. Anh phải định hình nên lối ăn đời ở kiếp đến khi chết không phải bằng cách tự vuốt ve cái vỏ bọc cá nhân, mà bằng cách dấn thân tìm kiếm sự giải thoát trong chính hành động của mình.
Rốt cuộc, lối tư duy tự quyết định số phận chẳng qua là một nỗ lực rốt ráo để sống sòng phẳng với một thế giới vắng bóng thần linh không hề ném con người vào vũng lầy tuyệt vọng. Chúa có tồn tại hay không. Nó chẳng hề quan trọng. Vì con người vẫn phải tự quyết định lấy số phận cuộc đời mình.
Lối tư duy L′existentialisme là một tiếng hét đầy kiêu hãnh và rực rỡ, một ngọn lửa hành động. Chỉ có sự ác ý của những kẻ trốn tránh thực tại, đem cái sự đớn hèn của chính họ trút lên đầu ta, mới xúm vào chửi rủa ta là những kẻ bế tắc đường cùng.
Dịch phóng tác bởi Bocchi981 dựa trên Bản tiếng Pháp và tiếng Anh.
23 tháng 3 năm 2026
Donate
USDT/USDC/ETH:
Tao mới làm về, dù rất mệt nhưng check mail thấy bài của mày, nhìn vào tiêu đề bên dưới, tao cảm thấy được đồng cảm dù chưa đọc. Cám ơn mày, qua mày tao cũng thấy mình nợ cuộc đời này, dù nó rất "chó má" và khắc nghiệt. Dự là tốn thêm 500k donate
Có chia sẻ khá hay về cụm từ về Đạo giáo đó là vô vi và những ý nghĩa mà mình trong nhiều giai đoạn cuộc sống tìm hiểu ra được. Vô vi - dịch thẳng ra từ Hán Việt là không hành động, nghe có vẻ buông xuôi chịu trận nhưng tại sao lại Đạo giáo lại nói vô vi nhưng không gì là không làm. Câu trước đá câu sau, bất nhất giữa các khái niệm là những gì mình sơ khai hiểu được. Nhưng về sau, dần tìm thấy tầng nghĩa hơn của nó đó là hành động mà không cần suy nghĩ kết quả, để nó thuận theo tự nhiên. Nghe cũng hết sức vô lý? Làm mà không cần kết quả, thì làm làm gì? Phải có mục tiêu phải có kết quả, phải thực sự giỏi hơn thằng hàng xóm, kiếm nhiều tiền hơn thằng hàng xóm... Nhưng khi đặt ra mục tiêu, đặt ra một ranh giới, hành động lại thành một cái gì đó cưỡng ép, mong mỏi kết quả, phải có điều kiện, đạt điều kiện này thì mới làm cái kia. Cũng may mắn gặp được 1 người khá hay chỉ ra và những công sức tìm tòi của cá nhân lẫn người viết. Mà đi đến một thứ đơn giản hơn, hành động luôn cần xuất phát từ chính cái bạn bên trong, đừng đặt ra mục tiêu, kì vọng làm rào cản sẽ làm chết đi mầm mống của đam mê. Những thành tựu của con người có lẽ là chuỗi các hành động không ngừng nghỉ, mong muốn được thấy bản thân tốt hơn qua mỗi lần Aha nho nhỏ, qua mỗi lần trải qua cảm giác được thăng hoa hơn một chút, khôn hơn một chút... Có thể mỗi người sẽ có cách nhìn khác nhau, nhưng vô vi ở mình thấy hành động theo chính những gì mà mình chọn và đi theo, không gượng ép điều gì, chỉ đơn giản là thấy thích và muốn làm điều đó. Chuỗi những giao động nhỏ sẽ thay đổi cả một cơn gió phía trước, và biết đâu được, là một mắt xích quan trọng của lịch sử...